Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật Lớp 6

pdf 26 trang binhlieuqn2 08/03/2022 3802
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật Lớp 6", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_doi_moi_phuong_phap_day_va_hoc_phan_mo.pdf

Nội dung tóm tắt: Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật Lớp 6

  1. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” lớp. Tất cả những tranh ảnh trên chỉ là hình ảnh phóng to trong sách giáo khoa. Hơn nữa các GV thường chỉ cho HS xem một số tranh này, không có nhiều tranh tham khảo, mở rộng. Nên tính hiện thực và trực quan cụ thể là chưa cao. GV cần phải sưu tầm các tài liệu có liên quan tới tiết dạy như trong sách báo, tuyển tập, tạp chí hay internet GV có thể tự làm đồ dùng cho HS bằng việc GV sẽ sưu tầm các bài bài vẽ của học sinh hay vẽ lại những công trình kiến trúc, các tác phẩm hội họa nổi tiếng vào bảng nhóm với kích thước lớn để HS dễ dàng quan sát và cảm thụ về cái đẹp. Từ đó tập hợp thành quyển, bộ theo trình tự cho từng tiết dạy và từng thời kỳ lịch sử mĩ thuật VD: MT Việt Nam có thể chia thành MT hiện đại và MT cổ như: - Mĩ thuật thời nguyên thuỷ - Mĩ thuật thời Lý - Mĩ thuật thời Trần - Mĩ thuật thời Lê Việc sưu tầm tranh ảnh và tập hợp thành bộ, quyển cho riêng mình giúp GV tự tin hơn và cung cấp mở rộng được nhiều kiến thức mĩ thuật hơn nữa cho HS mà không cần phải thuyết trình giảng giải quá nhiều, hơn nữa còn giúp GV định lượng được thời gian cho tiết học một cách khoa học và hợp lý. Ngoài ra tập hợp thành bộ, quyển giáo viên có thể bổ sung theo từng năm và sử dụng được nhiều năm liên tiếp. b) Tận dụng tối đa các phương tiện hiện đại: Đổi mới trong dạy - học bộ môn MT nói chung và phân môn MT nói riêng có một phần được nhắc tới rất nhiều đó là việc hiện đại hoá trong giảng dạy. Như đã phân tích ở phần 2, việc sưu tầm tranh ảnh đối với GV là rất khó nhưng sử dụng nó như thế nào để phát huy hết tác dụng của những tài liệu đó lại khó hơn. Vì tranh ảnh sưu tầm có nhược điểm chung là rất bé chỉ phù hợp cho GV tham khảo còn nếu cho HS xem thì cần hỗ trợ rất nhiều các phương tiện hiện đại đó là máy chiếu (máy Projector). Sử dụng GV có thể cho các em thấy rõ hơn, chính xác hơn về vẻ đẹp của từng công trình nghệ thuật, tác phẩm MT. Hay mở rộng thêm kiến thức bằng việc GV có thể giới thiệu nhiều tranh, ảnh liên quan tới bài học. Tận dụng tối đa các phương tiện này GV sẽ bớt đi rất nhiều những hoạt động không cần thiết trong giờ dạy. c) Sử dụng băng hình trong phân môn TTMT: Sử dụng băng hình trong dạy học MT là một phương tiện ít người nhắc tới do nhiều nguyên nhân đó là để thực hiện được trước hết phải có đủ phương tiện vật chất (đầu máy, tivi, ) sau đó 9 / 26
  2. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” phải có băng hình để xem mà băng hình trong bộ đồ dùng dạy học của trường THCS là chưa có mà GV không phải lúc nào cũng có thể tự đi quay hay thu được. Tuy nhiên nếu băng hình trong giờ học này được sử dụng, nó chính là một phương tiện dạy học hiệu quả nhất. Sự hiện diện của băng hình giúp cho HS và GV gần như trực tiếp quan sát các công trình, tác phẩm nghệ thuật. Hơn nữa hình ảnh mà HS quan sát là hình ảnh động khác với ảnh phiên bản minh hoạ cho nên tạo được hứng thú cho HS. Đồ dùng dạy học MT phong phú và đa dạng sẽ tránh được việc học một chiều nghĩa là GV thuyết trình HS nghe và tưởng tượng một cách mơ hồ về kiến thức đã học, không tạo được giờ học sôi nổi và hứng thú cho HS. Ngược lại nếu có nhiều đồ dùng dạy học, HS sẽ phát huy tính tích cực, tự giác có thể đưa ra nhận xét, cảm xúc của minh về từng giai đoạn MT, cuộc đời sáng tác và các tác phẩm nghệ thuật một cách khách quan và tổng hợp. d) Vận dụng đổi mới phương pháp vào môn dạy: 1) Cách thức tổ chức: Có những cách dạy, cách học TTMT như “Dạy học như thế nào để có hiệu quả” là câu hỏi luôn đặt ra cho người GV nói chung và GV MT nói riêng. Trước hết, phải xác định rõ công việc của GV và HS. a) Vai trò của giáo viên khi dạy thường thức mĩ thuật - Chuẩn bị tranh ảnh, mẫu, băng hình - Nghiên cứu chương trình môn lịch sử, tìm ra những nội dung có liên quan về hoàn cảnh lịch sử, về sự phát triển kinh tế, văn hoá, các công trình, các tác phẩm MT. Chuẩn bị trước những tài liệu có liên quan đến các tác phẩm mĩ thuật, tìm xuất xứ – tác phẩm – tác giả, hoàn cảnh ra đời, sự nghiệp sáng tác - Tìm những tư liệu địa phương có liên quan đến bài học. - Chuẩn bị nội dung bài học, bài tập dự án của HS. - Hình dung cách tổ chức bài dạy, chuẩn bị đồ dùng dạy học. - Chuẩn bị phiếu học tập hay bài tập nhóm cho các nhóm theo từng nội dung cụ thể. b) Nhiệm vụ của học sinh - Sưu tầm các tài liệu, tranh ảnh có liên quan đến bài học. - Đọc bài ở sách giáo khoa, xem các hình minh hoạ trước để nắm sơ bộ nội dung bài. - Chuẩn bị những ý kiến cá nhân về nội dung tác phẩm, hình thức thể hiện - Chuẩn bị bài tập dự án. - Xác định nhóm cùng học. c) Sử dụng các phương pháp dạy và học 10 / 26
  3. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” Chúng ta đã biết mỗi tác phẩm nghệ thuật là tổng hợp các kiến thức của nhiều phân môn, trong đó có cả âm nhạc, thơ ca, văn học, lịch sử, địa lý, sinh học Vì vậy phương pháp dạy học hiệu quả tốt nhất là: - Phương pháp phân tích - Phương pháp gợi mở - Phương pháp trực quan - Phương pháp so sánh - Phương pháp tích hợp - Phương pháp làm việc theo nhóm Phương pháp làm việc theo cặp, theo nhóm và liên hệ với thực tiễn cuộc sống sẽ có lợi thế hơn vì nó đảm bảo cho HS được thảo luận trên cơ sở hiểu biết riêng của mình, đồng thời tiếp nhận ý kiến của bạn làm cho nhận thức của các em sâu rộng hơn, kiến thức không rời rạc, được móc nối liên kết giữa các môn học với nhau, giữa kiến thức sách vở và thực tiễn sinh động bên ngoài. Đây chính là tinh thần cơ bản của dạy tích hợp mà chúng ta đang đề cập. Dùng các phương pháp này, GVsẽ là người tổ chức điều hành, HS vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện. Ví dụ: GV chia nhóm, yêu cầu mỗi nhóm chuẩn bị một nội dung cùng câu hỏi gợi ý. HS đọc tài liệu, xem hình ảnh minh hoạ sau đó các nhóm thảo luận tìm ra kiến thức, tìm ra cách giải quyết bài tập, cử người ghi chép và thảo luận trước lớp. Các nhóm khác trao đổi tiếp. GV tóm tắt, bổ sung vừa có tính chất nhắc lại, củng cố, vừa mở rộng thêm làm cho nhận thức của học sinh them sâu sắc và phong phú hơn. Ngoài tranh ảnh giới thiệu ở sách giáo khoa, ở bộ đồ dùng dạy học, giáo viên còn yêu cầu HS sưu tầm thêm và gợi ý HS phân tích, tự ghi chép nội dung theo cảm nhận riêng. Cách học này có nhiều điều bổ ích vì: - HS có ý thức tìm tòi tự nhiên để học tập, gắn kết giữa học và hành, nhà trường và xã hội. - Hình thành ở học sinh tính tự giác trong học tập, phát triển khả năng độc lập tư duy, cái tôi suy nghĩ trong sáng tạo. Điều này rất cần cho con người lao động mới. - Bồi dưỡng năng lực ghi chép theo cảm nhận riêng không quá lệ thuộc vào sách và các tài liệu có sẵn. Đây mới là yêu cầu có tính chất cấp thiết đối với đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, là xu thế chung của các nhà trường trên thế giới. Tự học, tự tìm tài liệu, tự tìm phương pháp học và tổ chức học tập, đánh giá dưới sự điều hành của giáo viên. 11 / 26
  4. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” d) Bồi dưỡng giáo viên: Như chúng ta đã biết, kết quả học tập của HS phụ thuộc rất nhiều vào sự giàu có kiến thức, vào nghệ thuật truyền đạt của GV. Vì thế theo tôi dạy học MT không đơn giản là dạy và học kĩ thuật vẽ mà còn phải biết kết hợp với dạy và học cảm thụ thế giới xung quanh. Việc nâng cao và bồi dưỡng trình độ cho giáo viên là việc làm cần thiết và phải được làm liên tục có hệ thống. Người GV phải luôn luôn trau dồi kiến thức để có thể nắm bắt được quan điểm đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với yêu cầu giáo dục hiện nay. Trước hết GV phải hiểu sâu về MT Việt Nam và thế giới, đánh giá các tác phẩm một cách khách quan và chính xác tự tìm được đối với phân môn này. Muốn vậy người GV phải tìm hiểu kỹ hơn qua các tài liệu có liên quan như: Lược sử MT học (Chu Quang Trứ – Phạm Thị Chỉnh – Nguyễn Thái Lai) giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ cao đẳng sư phạm, NXB Giáo dục năm 1998. Người GV phải nắm bắt một cách sâu rộng kiến thức lịch sử mĩ thuật Việt Nam và thế giới, hiểu rõ được giá trị nghệ thuật của các tác giả, tác phẩm từ đó xây dựng cho mình một tiết dạy phong phú, sinh động tạo sự tin tưởng và ngưỡng mộ của HS đối với GV. Việc hiểu biết sâu rộng kiến thức lịch sử mĩ thuật mà chưa biết cách truyền đạt các kiến thức đó thì giờ học chưa đạt hiệu quả. Vì vậy người GV phải biết đặt HS vào vị trí trung tâm của giờ học, phải hướng cho các em những hoạt động cụ thể. e) Ví dụ: - Bài “Sơ lược mĩ thuật thời Lý”, bài “ Một số công trình tiêu biểu của mĩ thuật thời Lý” có thể vận dụng cho HS xem một đoạn phim về thời nhà Lý và một số công trình tiêu biểu của thời kì này, GV chia nhóm cho HS tìm hiểu. - Bài “Tranh dân gian Việt Nam” vận dụng cách dạy và học bằng hình thức xây dựng bài tập dự án tìm hiểu về vẻ đẹp của tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống. Hoạt động trải nghiệm cho HS làm sản phẩm về tranh Đông Hồ. - Bài “Sơ lược mĩ thuật Thế giới thời kì Cổ đại” có thể vận dụng cách làm việc theo nhóm để tìm hiểu bài về các giai đoạn Ai Cập, Hy Lạp, La Mã thời kì Cổ đại. 12 / 26
  5. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” f) Thiết kế bài giảng Chủ đề: TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM Tiết 20- Bài 19: Tranh dân gian Việt Nam I. MỤC TIÊU : 1. Kiến thức: -Học sinh hiểu về nguồn gốc, thể loại, ý nghĩa và vai trò của tranh dân gian trong đời sống xã hội. - Học sinh hiểu về giá trị nghệ thuật và tính sáng tạo của tranh dân gian thông qua hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống. - Học sinh biết về cách làm tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống. 2. Kĩ năng: - Có kĩ năng lập kế hoạch hoạt động của lớp. - Kĩ năng phân tích, tự tìm tòi các tài liệu để xây dựng bài học. - Kĩ năng tự trải nghiệm, tự thực hành làm ra một bức tranh dân gian đơn giản. 3. Thái độ: - Giáo dục học sinh có ý thức giữ gìn và bảo vệ những nét đẹp của tranh dân gian Việt Nam nói chung và hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng trống nói riêng. - Giáo dục học sinh biết trân trọng, yêu quý và tự hào về tinh hoa văn hóa dân tộc. - Học sinh thêm yêu thích với bộ môn nghệ thuật. 4. Phát triển năng lực: - Năng lực hợp tác. - Năng lực giải quyết vấn đề. - Năng lực giao tiếp. - Năng lực sáng tạo. - Năng lực sử dụng ngôn ngữ. - Năng lực sử dụng công nghệ thông tin. - Năng lực tự học. II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH 1. Chuẩn bị của giáo viên: - Học liệu: giáo án, các tài liệu liên quan đến bài học (tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống, bản khắc nét, màu, giấy dó, màu vẽ tự nhiên ) - Thiết bị, đồ dùng dạy học: máy chiếu Projecter, máy tính, bảng phụ, bút dạ, giá vẽ - Giao việc cho học sinh. 2. Chuẩn bị của học sinh: - Nghiên cứu trước bài học. - Tìm hiểu về tranh dân gian Việt Nam và các dòng tranh tiêu biểu. 13 / 26
  6. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” - Sưu tầm tranh ảnh, đoạn phim về hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống. - Thuyết minh về hai dòng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống. III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC - Sử dụng các phương pháp dạy học chủ yếu: vấn đáp, thuyết trình, dạy học theo tình huống, định hướng hành động IV. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 1. Khởi động HOẠT ĐỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH NỘI DUNG KIẾN CỦA GIÁO CỦA HỌC HƯỚNG THỨC PHÁT TRIỂN VIÊN SINH NĂNG LỰC Hoạt động 1: Khởi động - GV: Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu. - HS chào đón đại *Lồng ghép hoạt biểu. cảnh do học sinh chuẩn bị nhằm gây - Năng lực hứng thú, sôi nổi giao tiếp. cho tiết học. -Năng lực - GV mời cán sự học - Học sinh tham sang tạo. tập điều hành phần gia phần khởi khởi động. động (Tích hợp âm nhạc) Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tranh dân gian Việt Nam GV: Giáo viên dẫn dắt giới thiệu vào bài. I. Vài nét về tranh dân gian. *Lồng ghép hoạt Năng lực điều động thảo luận HS điều khiển các * Nguồn gốc: tranh hành. nhóm bạn thảo luận dân gian ra đời nhóm khoảng thế kỉ XVI GV mời cán sự học - Các nhóm thảo do nhân dân lao - Năng lực tập lên hướng dẫn luận. động sáng tạo nên. phân tích, các bản thảo luận - Thư kí mỗi * Thể loại: đánh giá. nhóm. nhóm ghi ngắn - Tranh thờ 14 / 26
  7. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” gọn câu trả lời - Tranh chúc tụng - Năng lực của nhóm mình. - Tranh sinh hoạt hợp tác - Đại diện một - Tranh minh họa nhóm lên trình lịch sử bày. - Truyện tranh - Năng lực - Cán sự mời các * Ý nghĩa: giao tiếp nhóm khác bổ - Phục vụ đời sống sung cho phần văn hóa tinh thần trình bày của của nhân dân. nhóm bạn. - Thể hiện mong muốn, ước vọng - Cán sự mời giáo của nhân dân. viên nhận xét * Dòng tranh tiêu phần thảo luận biểu: của các bạn. - Tranh Đông Hồ - Tranh Hàng Trống GV: nhận xét và chốt - Tranh làng kiến thức. Sình . GV dẫn chuyển Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống *Lồng ghép hoạt - Cán sự học tập động chơi trò chơi lên tổ chức trò chơi cho các bạn. - GV mời cán sự học - Học sinh chơi tập lên điều hành trò chơi phần chơi trò chơi. - Cán sự nhận xét kết quả của hai đội chơi, mời giáo viên nhận xét trò chơi. II. Hai dòng - GV nhận xét và dẫn tranh dân gian - Phát triển 15 / 26
  8. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” dắt tìm hiểu về hai Đông Hồ và năng lực tự dòng tranh dân gian Hàng Trống học. tiêu biểu. - Rèn năng 1. Tranh Đông Hồ lực tư duy *Lồng ghép hoạt - Xuất xứ: tranh sáng tạo, động bài tập dự án. - Cán sự hướng Đông Hồ có xuất năng lực giao - GV mời cán sự học dẫn hai nhóm lên xứ từ làng Đông tiếp, hợp tác, tập lên hướng dẫn trình bày bài tập Hồ, huyện Thuận năng lực sử các bạn trình bày bài dự án. Thành, tỉnh Bắc dụng ngôn tập dự án. - Hai nhóm trình Ninh. ngữ, sử dụng (Tích hợp văn học, bày kết quả của - Chất liệu: từ thiên công nghệ địa lý, lịch sử) bài tập dự án. nhiên. Màu đen lấy thông tin + Nhóm Đông Hồ từ than lá tre, màu trình bày về tranh đỏ son lấy từ gạch dân gian Đông non tán mịn, màu Hồ. vàng lấy từ hoa *Lồng ghép sử dụng -Học sinh trình hòe, màu trắng lấy tranh ảnh hiệu quả. bày bài tập bằng từ vỏ sò tán thuyết trình tranh nhỏ v v ảnh. - Tác phẩm tiêu biểu: Tranh gà mái, tranh Thạch Sanh, tranh đánh đu -Năng lực 2. Tranh Hàng quan sát Trống: - Xuất xứ: Tranh - Năng lực tư (Tích hợp văn học, + Nhóm Hàng Hàng Trống có duy lịch sử, địa lý) Trống trình bày xuất xứ từ phố về tranh dân gian Hàng Trống, Quận *Lồng ghép sử dụng Hàng Trống. Hoàn Kiếm, TP Hà băng hình. -Học sinh trình Nội chiếu clip tìm - Chất liệu: Phẩm hiểu của nhóm màu nguyên chất mình. -Tác phẩm tiêu biểu: Tranh Cô ba, Bịt mắt bắt dê, Ngũ 16 / 26
  9. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” Hổ . III. Giá trị *Lồng ghép sử dụng nghệ thuật của đồ dung dạy học tranh dân gian: hiệu quả -Tranh dân gian Đông Hồ và Hàng - GV giới thiệu một -HS quan sát Trống rất chú trọng số tranh Đông Hồ và tranh đến bố cục, đường tranh Hàng Trống nét, và màu sắc. - Chữ hay những - GV đặt câu hỏi cho câu thơ vừa là học sinh tìm hiểu sự minh họa vừa tạo giống nhau và khác cho tranh bố cục ổn nhau giữa hai dòng định chặt chẽ tranh Hs trả lời câu hỏi - Hai dòng tranh của GV Đông Hồ và Hàng Trống là hai dòng tranh dân gian tiêu biểu của Việt Nam. Hoạt động 4: Thực hành *Lồng ghép hoạt động trải nghiệm. -Hs lắng nghe và IV. Thực hành - Năng lực -GV hướng dẫn hs thực hiện theo quan sát, thực cách làm một công hướng dẫn của hành đoạn trong tranh Gv Đông Hồ và Hàng Trống. -Hs thực hiện - Năng lực -GV nhận xét tranh phần thực hành sáng tạo. của hs. vẽ tranh -GV mời học sinh nhận xét về tiết học. -HS treo tranh và -GV chốt và kết thúc nhận xét sản tiết học. phẩm của nhóm 17 / 26
  10. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” bạn 2.Hướng dẫn HS học bài, chuẩn bị bài tiếp theo - Sưu tầm tranh, ảnh về tranh dân gian Việt Nam. - Chuẩn bị bài: Giới thiệu một số tranh dân gian Việt Nam. 4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 18 / 26
  11. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” Sau quá trình dạy học thử nghiệm, HS được nghiên cứu và thu được những kết quả sau: -Về kiến thức: HS đã thu được kiến thức tương đối đầy đủ, tổng hợp và sâu sắc. Cụ thể là HS đã biết cách tự học, tự tìm tòi và nêu lên những ý kiến và hiểu biết của các em tìm hiểu được từ thực tiễn, từ internet, qua điều tra, phỏng vấn làm phong phú thêm những kiến thức từ chương trình sách giáo khoa. - Về kĩ năng: Năng lực HS được phát triển tư duy ở mức cao hơn như: giải quyết vấn đề, phân tích, tổng hợp, đánh giá, sáng tạo thông qua các hoạt động nhóm, lập kế hoạch, diễn tiểu phẩm, thực hiện dự án, thực hành trải nghiệm, tổng hợp kết quả sau nghiên cứu - Về thái độ: HS rất hứng thú và tích cực học tập với cách học theo dự án vì HS chủ động, tích cực trong hoạt động theo cách tìm hiểu và giải quyết vấn đề. Với GV, việc đổi mới phương pháp dạy và học trong phân môn thường thức mĩ thuật nói riêng và chương trình giáo dục nói chung sẽ làm cho môn học đa dạng và phong phú góp phần đáp ứng được mục tiêu đào tạo những con người có năng lực hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo, linh hoạt cho xã hội. => HS hiểu bài hơn, nắm được kiến thức nhanh hơn, dễ nhớ bài hơn, có sự sáng tạo, chủ động trong quá trình học. GV không phải giảng giải nhiều mà đóng vai trò là người hướng dẫn, chỉ đường, gợi mở cho HS. Chất lượng môn MT từng bước được nâng cao. 19 / 26
  12. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” 20 / 26
  13. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” 21 / 26
  14. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” 22 / 26
  15. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” (Học sinh thuyết trình trong tiết học TTMT bài Tranh dân gian Việt Nam) (Học sinh thuyết trình trong tiết học TTMT bài Tranh dân gian Việt Nam) 23 / 26
  16. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” (Học sinh tham gia chơi trò chơi trong tiết học TTMT bài Tranh dân gian Việt Nam) (Học sinh tham gia chơi trò chơi trong tiết học TTMT bài Tranh dân gian Việt Nam) 24 / 26
  17. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” III. KẾT LUẬN Mục đích cuối cùng của việc dạy học ở trường THCS không nhằm đào tạo hoạ sĩ hay những người chuyên làm nghề MT mà lấy giáo dục thẩm mĩ cho HS làm mục tiêu chủ yếu. Trong đời sống xã hội mới ngày nay, ở mọi nơi, mọi lúc đều cần đến vẻ đẹp “kịp thời” của MT và nghệ thuật. Vì vậy nhu cầu về thẩm mĩ và nghệ thuật là một nhu cầu chính đáng của con người. Cho nên giáo dục phải nhằm mục tiêu phát triển toàn diện con người một cách bền vững. Trước hết cấp học THCS là cơ sở để hình thành cho HS thế giới quan, nhân sinh quan khoa học. Đặc biệt đối với môn MT, việc tìm hiểu và nghiên cứu các phân môn sẽ giúp các em có nhận thức sâu sắc đời sống thẩm mĩ của con người trong xã hội, các em sẽ hiểu được MT là tạo ra cái đẹp, cái đẹp không có đáp số, không có quy định cho tất cả mọi người, do vậy càng suy nghĩ và chăm chỉ làm việc thì các em càng sáng tạo được nhiều vẻ đẹp khác nhau. Mỗi phương án của bài tập sẽ mang lại cho các em một nhận thức mới về mĩ thuật, mang lại niềm vui trước cái đẹp do chính mình tạo ra và sự thích thú thưởng thức cái đẹp trong cuộc sống. Trên đây là một vài kinh nghiệm của tôi trong quá trình dạy học tại trường THCS. Tại ngôi trường này tôi đã có nhiều điều kiện để thực hiện những ý tưởng sáng tạo của mình. Đó là do cơ sở vật chất hiện đại (máy chiếu, đầu đĩa, đài, máy tính, ) và cả sự ủng hộ của Ban giám hiệu nhà trường. Tuy nhiên việc dạy học mỹ thuật còn gặp nhiều khó khăn đó là hiện nay chưa có phòng học MT chuyên biệt. Tôi rất mong được có sự ủng hộ của nhà trường hơn nữa về cơ sở vật chất, phòng học MT, tranh ảnh, băng hình, tư liệu Để tiết học MT được hiệu quả và chất lượng. Trong quá trình thực hiện sáng kiến tôi còn gặp nhiều thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của ban lãnh đạo và các đồng chí giáo viên giảng dạy bộ môn trong toàn Quận để dự án của tôi mang tính khả thi hơn nữa. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 19 tháng 03 năm 2017 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. 25 / 26
  18. “ Đổi mới phương pháp dạy và học phân môn thường thức mĩ thuật lớp 6” IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lược sử MT học (Chu Quang Trứ – Phạm Thị Chỉnh – Nguyễn Thái Lai) giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ cao đẳng sư phạm, NXB Giáo dục năm 1998. 2. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo 29-NQ/TW ban hành ngày 4/11/2013 3. Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, Nguyễn Phi Oanh, NXB KHXH, 1970 4. Nguyễn Phi Hoanh, Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, (1984) 5. Nguyễn Trân, Lịch sử mỹ thuật thế giới, NXB Trường ĐHMỹ thuật Hà Nội, (1993) 6. Sáng kiến kinh nghiệm “Một số phương pháp dạy và học môn Mĩ thuật Đan Mạch ở tiểu học”, Nguyễn Văn Phong năm học 2016 – 2017. 7. “Mĩ thuật và phương pháp dạy học” của Trịnh Thiệp, Ưng Thị Châu. 8. “Kỹ hoạ và bố cục” của Tạ Phương Thảo, Nguyễn Lăng Bình. 9. Tài liệu lịch sử (SGK 6, 7, 8, 9) 11. Một số giải pháp giúp HS hứng thú học phân môn TTMT trong môn Mĩ thuật, tác giả Lê Thị Quyên, năm 2015. 12. Trần Bá Hoành (1999), “Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (Số 9). 13. Nguyễn Thị Liên (2012), “Vấn đề năng lực sáng tạo vào đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Giáo dục, (Số 285), tr.9. 14. Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) - Nguyễn Hải Châu - Triệu Khắc Lễ - Đàm Luyện (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn MT THCS, NXB Giáo dục Việt Nam., HN. 15. Lê Văn Dương – Lê Đình Lục – Lê Hồng Vân, (2002), Mỹ học đại cương, Nhà xuất bản Giáo dục – Hà Nội. 16. Vưgôtxki. L.X (1995), Tâm lý học nghệ thuật, NXB Khoa học xã hội, HN. 17. Vưgôtxki L.X, (1985), Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi, Nhà xuất bản phụ nữ, Người dịch: Duy Lập. 18. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Mĩ học đại cương – NXB Giáo dục 26 / 26